bệnh trầm cảm wiki
Kiến thức Tâm Lý họcTâm lý lâm sàngTrầm Cảm Là gì? Toàn Tập Kiến Thức Về Trầm Cảm

Trầm Cảm Là gì? Toàn Tập Kiến Thức Về Trầm Cảm

Có một thực tế mà không phải ai cũng biết đó là hơn 80% trong số chúng ta sẽ mắc trầm cảm trong một thời điểm nào đó của cuộc đời. Căn bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến thần kinh, mà còn là giảm chất lượng cuộc sống.

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng gần 1 triệu người gặp vấn đề về rối loạn trầm cảm, 4% trong đó có xu hướng tự tử. Trầm cảm đang dần trở thành một trong những căn bệnh phổ biến nhất toàn cầu tuy nhiên lại chỉ có 25% trong số đó được chữa trị và có hình thức trị liệu kịp thời.

Rối loạn trầm cảm là gì? Nguyên nhân, biểu hiện triệu chứng cách phân biệt cũng như phòng tránh và điều trị như thế nào? Cùng Thanhbinhpsy tìm hiểu trong bài viết ngay dưới đây nhé.

Trầm Cảm là gì?

Trước khi đi vào khái niệm trầm cảm là gì? Thanhbinhpsy muốn điểm qua về thực trạng bệnh trầm cảm hiện nay trên thế giới. Đảm bảo những con số này sẽ gây tác động mạnh tới  nhận thức và cảm xúc của bạn.

Thực trạng về bệnh trầm cảm

Thế giới: Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, trầm cảm đang dần trở thành 1 trong 2 căn bệnh phổ biến nhất toàn cầu. Những số liệu thống kê cho thấy mức độ nghiêm trọng, khủng khiếp của kẻ “sát thủ thầm lặng” này đối với con người:

  • Ước tính có khoảng 3-5% (230 – 385 triệu người) dân số thế giới có rối loan trầm cảm rõ rệt.
  • 75% người bị trầm cảm thiếu hiểu biết và chưa được điều trị kịp thời và đúng phương pháp.
  • Mỗi năm trầm cảm lấy đi sinh mạng của 850.000 người
  • Tần suất nguy cơ mắc bệnh trầm cảm trong cuộc đời của mỗi người là 15-20%
  • Độ tuổi phổ biến mắc bệnh trầm cảm là từ 18-45 tuổi
  • Tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm ở phụ nữ gấp 2 lần đàn ông, xu hướng tự sát ở đàn ông lại cao hơn phụ nữ.
  • 50% trường hợp tự sát là do trầm cảm.
  • Ý đồ tự sát ở người mắc hội chứng trầm cảm nhiều hơn gấp 10-12 lần so với hành vi tự sát.
  • Năm 2020 trầm cảm sẽ trở thành căn bệnh phổ biến xếp hạng 2 toàn cầu

Việt Nam: cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, tỷ lệ người mắc rối loạn trầm cảm ở nước ta đang tăng lên chóng mặt.

  • Năm 2000 cả nước có 2.5% dân số mắc bệnh trầm cảm.
  • Năm 2018 số lượng người mắc bệnh trầm cảm chiếm khoảng 5% dân số.
  • 80% người bệnh không đi khám và không tìm hiểu về bệnh của mình.

Trầm cảm là gì?

Trầm cảm là một rối loạn ảnh hưởng đến tâm trạng gây ra cảm giác buồn bã và mất hứng thú liên tục. Trầm cảm ảnh hưởng tiêu cực đến các cảm nhận, suy nghĩ và hành xử của con người.

Người bệnh dễ rơi vào tình trạng chán nản bế tắc và có có thể gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động thường ngày. Trong những trường hợp nặng, họ cảm thấy cuộc sống này không đáng sống nên dẫn đến tự tử để giải thoát. Trầm cảm không dễ dàng thoát ra được để ngăn chặn và điều trị căn bệnh này cần nhiều thời gian và công sức.

trầm cảm wiki

Bệnh trầm cảm nặng trong một thời gian dài sẽ là một vấn đề nghiêm trọng

Thuật ngữ rối loạn trầm cảm được dùng đầu tiên trong học thuyết thể dịch của Hypocrate, tiếp sau đó Pine mô tả trầm cảm như là một trong 4 loại loạn thần. Trầm cảm bắt đầu được giới y khoa chú ý từ thế kỷ XVIII tuy nhiên, khoảng cuối thế kỷ XX căn bệnh này mới bắt đầu bùng phát mạnh mẽ và được giới chuyên môn cũng như con người chú ý đến.

Cho đến năm 1992, các chuyên gia mới nghiên cứu hoàn thiện về trầm cảm bằng khái niệm bệnh học và phân loại trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của WHO.  Và mới nhất trong Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM-V). Trong bảng phân loại này, trầm cảm được phân vào nhóm rối loạn cảm xúc.

Theo Wikipedia thì “trầm cảm là một rối loạn cảm xúc liên quan đến khí sắc thường gặp trong tâm thần học học. Bệnh do hoạt động của bộ não bị rối loạn gây nên tạo thành những biến đổi thất thường trong suy nghĩ hành vi và tác phong. Trầm cảm có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là 18-45 tuổi. Tỷ lệ trầm cảm ở phụ nữ nhiều hơn nam giới gấp 2 lần, giá trị này chỉ là ước chừng vì còn tùy vào nền văn hóa và dân tộc. Hội chứng trầm cảm có tỷ lệ cao ở những người ly thân, li dị và thất nghiệp.

Theo WHO “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, buồn bã, cảm thấy tội lỗi, tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung.

Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hàng ngày. Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Ở mức độ nhẹ bệnh nhân có thể được hỗ trợ chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng người bệnh cần hỗ trợ điều trị bằng thuốc kết hợp liệu pháp tâm lý”

Từ góc độ y học, trầm cảm được biết tới là những rối loạn trong cảm xúc, từ đó gây ra hiện tượng mệt mỏi, buồn bã và khiến bạn dần mất đi niềm đam mê đối với những sở thích của mình. Hậu quả là, sự thay đổi trong cảm xúc, hành vi và lối suy nghĩ khiến chất lượng cuộc sống của bạn bị ảnh hưởng.

Tóm  lại trầm cảm là một chứng rối loạn tâm lý, gây ra cảm giác chán nản kéo dài cho người bệnh. Hội chứng trầm cảm gây ảnh hưởng trực tiếp đến cách con người cảm nhận, suy nghĩ mọi thứ xung quanh và có thể dẫn đến những vấn đề phức tạp về thể chất và tinh thần.

Nếu trầm cảm không được phát hiện hoặc kéo dài trong thời gian dài nó có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc và gây rạn nứt các mối quan hệ với gia đình hoặc bạn bè, thậm chí trong những trường hợp nghiêm trọng, chứng trầm cảm có thể là nguyên nhân dẫn đến tự tử. Trong các dạng trầm cảm, trầm cảm sau sinh là tình trạng rất phổ biến và vô cùng nguy hiểm.

Xem thêm >>> Dịch Vụ Tư Vấn Tâm Lý Qua Chat

Biểu hiện triệu chứng của Trầm Cảm

Rất khó để có thể phân biệt được Hội chứng trầm cảm(Major Depressive Disorder) với nỗi buồn thông thường. Có một câu nói có thể coi là tóm gọn triệu chứng của trầm cảm:”Trầm cảm không phải là khi bạn thấy buồn vì mọi thứ không xảy ra theo ý bạn mà là bạn thấy buồn mặc cho mọi việc vẫn diễn ra tốt đẹp.”

Những biểu hiện và triệu chứng của trầm cảm được thể hiện qua nhiều hình thức. Các biểu hiện này có thể gặp ở người khỏe mạnh, bình thường khi gặp chuyện sốc hay buồn bực, vì vậy rất khó có thể phân biệt được đâu là tâm trạng nhất thời và khi nào thì đã mắc phải bệnh.

trầm cảm wiki

Biểu hiện của bệnh trầm cảm được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau

Cụ thể:

  • Hình thức bên ngoài: người có biểu hiện trầm cảm thường không chú ý đến diện mạo, áo quần lôi thôi, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc nóng nảy khó hiểu, giọng nói trầm buồn, đơn điệu vô cảm.
  • Lo âu và sợ hãi: Cảm giác người buồn bã, không cảm xúc, thấy trống vắng, tuyệt vọng và muốn khóc. Thường xuyên lo âu và sợ hãi mà không rõ nguyên do. Tâm trạng họ thay đổi mà không có bất kì sự kiện hay nguyên nhân nào xảy ra trước đó, hoặc sự việc không tồi tệ đến mức cảm xúc đi xuống.
  • Rối loạn chức năng sinh dục: giảm hoặc mất ham muốn tình dục ở cả hai phái, có thể yếu hoặc mất chức năng cương cứng ở nam giới, lãnh cảm phụ nữ thường xuất hiện sau khi sanh (hậu sản/trầm cảm sau sanh).
  • Các biểu hiện sinh lý khác đi kèm: kém ăn, mất cảm giác ngon miệng, mất ngủ tăng hay giảm cân nặng bất thường, có cảm giác đau nhức nhiều vùng ở thùy não, điển hình là cảm giác tức ngực, hơi thở thất thường, điều này khiến bệnh nhân thường tìm đến những nơi an toàn hơn cho bản thân, thậm chí là một mình.
  • Tiêu cực, giận dữ trong cách suy nghĩ: Luôn nhìn mọi thứ tiêu cực, tuyệt vọng, khó chịu, tức giận ngay cả trong những vấn đề nhỏ nhặt. Theo đó, người gặp rối loạn trầm cảm thường hay có cảm giác do dự, không chắc chắn. Tiêu chuẩn và đòi hỏi cao, yêu cầu cao với người khác và với chính mình. Dễ bị tổn thương, khó thay đổi những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rũ và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng khó kiểm soát, không có hứng thú làm bất cứ chuyện gì. Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, và người khác, cảm giác tuyệt vọng không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai.
  • Khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt: Đối với những người bệnh nặng hơn còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, giao tiếp với xã hôi. Thậm chí những công việc vệ sinh cá nhân đánh răng, tắm giặt cũng trở nên quá sức. Điều này có thể được xem là thụ động cấp tính.

Về cơ bản các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn tuổi đều giống nhau. Tuy nhiên, trẻ em và thanh thiếu niên các biểu hiện này có sự khác biệt hơn. Đó chính là sự rõ ràng hơn của các triệu chứng buồn bã, khó chịu, đau nhức cơ thể, thiếu cân hay không muốn đi học.

Ở người lớn đặc biệt là người cao tuổi thì các triệu chứng có phần khác đi hoặc khó nhận ra như: suy giảm trí nhớ, thay đổi tính cách, đau đớn về mặt thể chất, mệt mỏi, chán ăn, có suy nghĩ tự tử.

Các loại trầm cảm

Bên cạnh là một rối loạn cảm xúc lâm sàng thì trầm cảm cũng được chia thành nhiều loại. Mỗi một loại trầm cảm khác nhau lại có những biểu hiện triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị khác nhau.

1. Trầm cảm theo mùa (SAD)

Trầm cảm theo mùa có tên tiếng Anh là Seasonal Affective Disorder (SAD) là một rối loạn khí sắc thường xảy ra vào mùa thu và mùa đông và thường hồi phục trở lại vào mùa xuân hoặc mùa hè.Tuy nhiên trên thực tế cũng có môt số trường hợp người mắc bệnh trầm cảm theo mùa, trầm cảm vào mùa xuân hoặc đầu hè.

Theo thống kê có hơn 5% dân số Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi trầm cảm theo mùa. Tuy nhiên con số bị rối loạn trầm cảm theo mùa ở dạng nhẹ được ước tính cao hơn rất nhiều khoảng trên dưới 15%. Trầm cảm theo mùa xảy ra ở cả hai giới, thường thấy ở tuổi vị thành niên và tuổi đôi mươi, tuổi càng cao thì nguy cơ càng giảm.

trầm cảm wiki

Trầm cảm theo mùalà một rối loạn khí sắc thường xảy ra vào mùa thu và mùa đông và thường hồi phục trở lại vào mùa xuân hoặc mùa hè và ngược lại

Điểm khác biệt lớn nhất của trầm cảm theo mùa so với trầm cảm chung đó chính là tính chất chu kỳ khá rõ ràng. Người bệnh sẽ bắt đầu các biểu hiện triệu chứng vào mùa thu, đông và kết thúc vào mùa xuân, hè và ngược lại. Sau khi qua khỏi mùa bị ảnh hưởng người mắc hội chứng trầm cảm theo mùa có thể trở lại bình thường và có sức khỏe tâm lý tốt như mọi người.

Các triệu chứng của trầm cảm theo mùa cũng khá đặc trưng và thường xuất hiện lặp đi lặp lại qua các năm. Cụ thể như: vào đầu mùa người bệnh thường cảm thấy buồn rầu, hay lo lắng, cáu gắt; giảm sự yêu thích với các hoạt động; ăn nhiều và thích tinh bột; tăng cân; ngủ nhiều và thường thấy mơ màng; uể oải, chậm chạp.

Theo các nghiên cứu khoa học thì nguyên nhân chính của trầm cảm theo mùa đó chính là sự thay đổi ánh sáng giữa các mùa. Cụ thể, những người sống trong các khi vực có ánh sáng thay đổi đột ngột giữa các mùa trong năm thường hay mắc bệnh hơn. Ngoài ra, những người từng có người thân bị ảnh hưởng bởi hội chứng này cũng dễ bị hơn những người khác.

Sử dụng liệu pháp ánh sáng và bổ sung vitamin D được đánh giá là một trong những phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa và điều trị trầm cảm theo mùa hiệu quả.

2. Trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh có tên tiếng Anh là Postpartum Depression là một dạng của bệnh trầm cảm ảnh hướng đến phụ nữ mà một số ít nam giới sau sinh con. Theo WHO có khoảng 85% nữ giới sau sinh con mắc phải căn bệnh này. Các tỷ lệ mắc bệnh biến thiên rất rộng và nguyên nhân là do các tiêu chuẩn chẩn đoán không thống nhất ở các nước.

Theo đó, Một khảo sát ở Bệnh viện Hùng Vương, TPHCM cho biết tỉ lệ sản phụ có biểu hiện trầm cảm sau sinh là hơn 40%, ở Từ Dũ con số này khoảng 15% trong đó có khoảng 6% trầm cảm thực sự. Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho thấy cứ 7 phụ nữ Mỹ thì có ít nhất 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng hơn một nửa số phụ nữ trầm cảm sau sinh cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi mang bầu và trong thời gian mang thai.

trầm cảm wiki

85% phụ nữ sau sinh mắc bệnh trầm cảm

Các biểu hiện triệu chứng của trầm cảm sau sinh thường xuất hiện từ khi người mẹ mang bầu, vài tuần sau hoặc vài tháng sau sinh. Những biểu hiện triệu chứng của trầm cảm sau sinh thường gặp là:

  • Sự đi xuống về cảm xúc (cô đơn, buồn bã, hay khóc, cáu gắt với người khác cảm thấy không xứng đáng với con..
  • Có cảm giác mất kết nối với con, sao nhãng việc chăm sóc con
  • Dễ lo âu và hoảng sợ, an ủi không mang lại tác dụng
  • Giảm giao tiếp, diễn đạt chính xác khi nói hoặc viết
  • Mất hứng thú trong các hoạt động và quan hệ tình dục
  • Các biểu hiện sinh lý: rối loạn giấc ngủ, ăn uống thất thường

Các yếu tố nguy cơ gia tăng trầm cảm sau sinh thường là những khó khăn về mặt kinh tế; sinh con so, con bị dị tật, khó sinh;  sinh con trong tình trạng ly thân, li dị; có tiền sử sử dụng các chất kích thích (rượu, ma túy..); từng bị trầm cảm trong thời kỳ mang thai hoặc trong các lần sinh trước.

Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác của trầm cảm sau sinh. Một số nghiên cứu cho rằng trầm cảm sau sinh là do việc thay đổi nội tiết tố của người mẹ bị rối loạn cộng với những mệt mỏi trong thai kỳ khi sinh em bé và những rắc rối trong quan hệ vợ chồng, mẹ chồng- nàng dâu.

Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người mẹ và bé đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ.  Tuy nhiên, trầm cảm sau sinh đáp ứng tốt với các phương pháp điều trị.

Nguyên tắc điều trị trầm cảm sau sinh cũng gần giống như các trường hợp khác đó chính là kết hợp sự giúp đỡ của bác sĩ (thuốc chống trầm cảm) với trị liệu tâm lý để người bệnh có thể cải thiện cảm xúc cũng như mối quan hệ với người khác. Vì vậy các mẹ không cần quá lo lắng vì với sự giúp đỡ của bác sĩ, nhà tâm lý và các thành viên trong gia đình, bạn có thể vượt qua tình trạng này.

3. Trầm cảm cười (Smiling Depression)

Trầm cảm cười có tên tiếng anh là Smiling Depression dùng để chỉ một trạng thái cảm xúc của những người sống với trầm cảm ở bên trong, trong khi có vẻ hoàn toàn hạnh phúc hoặc hài lòng ở bên ngoài. Cuộc sống công khai của họ khi có sự tham gia của những người khác rất bình thường, vui vẻ hoặc hoàn hảo dù cho tâm trang bên trong của họ đang rất tồi tệ.

Thông thường, trầm cảm cười có liên quan đến nỗi buồn, thờ ơ và tuyệt vọng – nó có thể khiến cho một người nào đó khó có thể rời khỏi khỏi giường của họ. Tuy nhiên, họ lại cho chúng ta thấy những cung bậc khác nhau của dạng trầm cảm này được che đậy bởi nụ cười hay năng lượng hạnh phúc bên ngoài.

rối loạn lo âu wiki

Trầm cảm cười là một loại trầm cảm vô cùng nguy hiểm, có nguy cơ tự sát cao

Các biểu hiện triệu chứng của trầm cảm cười thường không được biểu hiện rõ ràng vì người mắc bệnh thường có xu hướng che giấu các triệu chứng mà họ đang gặp phải.

Trầm cảm cười không được công nhận là một điều kiện trong Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-5) nhưng có thể được chẩn đoán là rối loạn trầm cảm chủ yếu với các đặc điểm không điển hình.

Về cơ bản triệu chứng của trầm cảm cười đó chính là: người bệnh tỏ ra vui vẻ, hạnh phúc với mọi người từ bên ngoài. Tuy nhiên, bên trong, họ sẽ trải qua các triệu chứng đau khổ của trầm cảm với các biểu hiện bên trong như: nỗi buồn sâu thẳm, kéo dài; thay đổi cân nặng, khẩu vị, giấc ngủ; thường xuyên mệt mỏi và thờ ơ; tuyệt vọng, thiếu tự tin và tự hạ thấp giá trị bản thân.

Một triệu chứng trầm cảm cười điển hình đó chính là người bệnh có năng lượng cực kỳ thấp và cảm thấy khó có thể rời khỏi giường vào buổi sáng. Trong trầm cảm mỉm cười, mức năng lượng có thể không bị ảnh hưởng (trừ khi người đó ở một mình).

Tỷ lệ tự tử của những người mắc trầm cảm cười thường cao hơn những người mắc chứng trầm cảm thông thường. Vì họ che dấu các vấn đề của mình quá kỹ lưỡng và thiếu sự động viên hay sẻ chia nên các vấn đề của họ càng trở nên nặng nề và khó giải quyết hơn.

Nguyên nhân chính gây ra hội chứng trầm cảm cười thường được kích hoạt bởi một tình huống xấu như một mối quan hệ thất bại, mất việc hay người bệnh phải chịu nhiều áp lực từ công việc, tình cảm hay cuộc sống. Nếu không tìm cách khắc phục ngay thì chứng bệnh này sẽ dần gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và đời sống tinh thần của người bệnh.

Trầm cảm cười không chỉ có một khuôn mặt hoặc ngoại hình. Khi những người trong mắt công chúng chết vì tự tử, nhiều người bị choáng váng vì những chiếc mặt nạ – hoặc nụ cười – họ đeo. Chẳng hạn, khi những nam nữ diễn viên nổi tiếng tự sát vì trầm cảm nhiều người đã bị sốc dù trước đó họ xuất hiện trước truyền thông với khuôn mặt vui vẻ, tràn đầu năng lượng.

Nếu bạn đang trải qua trầm cảm mỉm cười, bạn nên bắt đầu bằng cách nói chuyện với ai đó về nó. Một nơi an toàn không phán xét để bắt đầu sẽ là một văn phòng tâm lý học, các nhà tâm lý sẽ là người sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ và hỗ trợ cho bạn vượt qua những khó khăn của mình một cách tận tâm, bảo mật và không phán xét.

4. Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt (PMDD)

Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt có tên tiếng anh là Premenstrual Dysphoric Disorder (PMDD) là một rối loạn tương tự như rối loạn tiền kinh nguyệt (Premenstrual syndrome – PMS) nhưng nghiêm trọng hơn. PMDD gây trầm cảm hoặc lo lắng và khó chịu nghiêm trọng trong một hoặc hai tuần trước khi chu kỳ kinh nguyệt của bạn bắt đầu. Các triệu chứng thường biến mất hai đến ba ngày sau khi chu kỳ của bạn bắt đầu.

Theo thống kê thì có khoảng 5% nữ giới trong độ tuổi thành niên đến sinh đẻ gặp PMDD. Nhiều phụ nữ bị PMDD cũng có thể bị lo lắng hoặc trầm cảm.

rối loạn lo âu wiki

Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt gây trầm cảm hoặc lo lắng và khó chịu nghiêm trọng trong một hoặc hai tuần trước khi chu kỳ kinh nguyệt của bạn bắt đầu

Các biểu hiện triệu chứng của PMDD bao gồm: khó chịu kéo dài, cảm xúc thất thường hay tức giận; buồn bã hay tuyệt vọng hoặc thậm chí có ý nghĩ tự tử; thường xuyên có cảm giác căng thẳng, lo lắng; khó suy nghĩ hoặc tập trung; thiếu năng lượng…

Các triệu chứng thực thể của PMDD bao gồm: chuột rút, đầy hơi, đau vú, đau đầu, khớp hoặc cơ…

Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chắc chắn gây ra PMDD hoặc PMS. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu thì giả thuyết nguyên nhân đến từ một hóa chất trong não (hormone) là Serotonin thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt có thể là nguyên nhân chính gây ra tình trạng PMDD.

Về điều trị PMDD các chuyên gia khuyến khích người mắc hội chứng PMDD xây dựng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh, cắt giảm các thực phẩm mặn và đường đồng thời tăng cường các hoạt động thể chất để giảm lùi các triệu chứng.

Trong trường hợp những người mắc PMDD có biểu hiện nặng thì được khuyến khích sử dụng thuốc chống trầm cảm hoặc thuốc tránh thai theo yêu cầu của bác sĩ.

Ngoài ra, người PMDD có thể tự quản lý căng thẳng (kỹ thuật thư giãn, dành thời gian cho các hoạt động yêu thích) hoặc nhờ cậy sự hỗ trợ của các nhà Tâm lý trị liệu để đạt kết quả nhanh chóng và hiệu quả hơn.

5.  Rối loạn lưỡng cực  – Hưng trầm cảm (RLLC)

Rối loạn lưỡng cực hay còn được gọi là Hưng- Trầm cảm (RLLC) là một loại bệnh lý tâm thần thường gặp trong xã hội hiện đại. Chứng RLLC thường được bắt đầu bằng một giai đoạn trầm cảm. Giai đoạn hưng cảm kế tiếp đó thường chỉ đến sau vài tháng, thậm chí vài năm sau. Nhiều trường hợp xuất hiện cùng lúc với trầm cảm trong trạng thái hỗn hợp hoặc sau giai đoạn bình thường không có triệu chứng.

Rối loạn hưng – trầm cảm được chia làm 3 loại với những đặc điểm về thời gian, chu kỳ và mức độ cảm xúc khác nhau: RLLC loại I, II và Cyclothymia.

hung_tram_cam

Rối loạn lưỡng cực là một loại bệnh lý tâm thần thường gặp trong xã hội hiện đại.

Biểu hiện đặc trưng thường thấy ở những người gặp RLLC là sự thay đổi rõ rệt tâm trạng, cảm xúc, hành vi cũng như năng lực cá nhân. Những thay đổi này diễn tiến theo từng giai đoạn. Khi người mắc RLLC trong trạng thái hưng cảm (mania) biểu hiện quá mức những cảm giác phấn chấn, vui vẻ, hào hứng.

Ngược lại, khi người bệnh trong giai đoạn trầm cảm (depression) sẽ rơi vào tình trạng trầm uất, buồn chán, thờ ơ. Đôi khi, một giai đoạn bao gồm biểu hiện của cả hai trạng thái hưng cảm và trầm cảm (trạng thái hỗn hợp – mixed state).

Theo nghiên cứu của các chuyên gia thì nguyên nhân gây RLLC thường không đến từ một yếu tố đơn lẻ mà là tác động tổ hợp. Cho đến nay, người ta phát hiện ra 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển RLLC bao gồm yếu tố di truyền, đặc điểm sinh học và yếu tố môi trường tác động. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây còn phát hiện thêm một số nguy cơ mức RLLC cho trẻ nếu thai phụ bị cảm cúm trong thai kỳ.

RLLC gây ảnh hưởng không nhỏ cho cuộc sống của người bệnh. Đa số người gặp RLLC thường khó duy trì các mối quan hệ xã hội, nhiều khi bị mọi người xung quanh xa lánh, coi thường. Họ thường có xu hướng lạm dụng rượu bia và sử dụng các loại hóa chất kích thích, thuốc ngủ như một “cứu cánh” cho tình trạng suy giảm giấc ngủ. Cũng như trầm cảm cười, RLLC là một trong những rối loạn khiến cho người bệnh có nguy cơ tự sát cao nhất trong các loại rối loạn trầm cảm.

Về điều trị RLLC các chuyên gia khuyến khích người bệnh sử dụng thuốc theo toa của bác sĩ kết hợp với tham vấn và trị liệu tâm lý.

Chẩn đoán Trầm Cảm dựa trên ICD-10 và DSM-5

Rối loạn trầm cảm được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” không chỉ bởi tính chất nguy hiểm mà còn đến từ sự mơ hồ và lặng lẽ của rối loạn đối với từng người, từng độ tuổi là khác nhau. Hiện nay, các chuyên gia dựa trên Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của WHO.  Và bảng Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM-V). để đưa ra chẩn đoán về bệnh trầm cảm.

1. Chẩn đoán trầm cảm theo DSM-V

Để chấn đoán 1 người mắc trầm cảm các bác sĩ sẽ dựa trên căn cứ hệ thống phân loại bệnh DSM-V. Theo bảng phân loại này người được cho là bị trầm cảm khi có ít nhất 4 triệu chứng diễn ra hàng ngày và kéo dài ít nhất trong 2 tuần bao gồm:

  1. Tâm trạng buồn bã chán nản gần như cả ngày. Có thể nhận biết chủ quan qua cảm giác buồn chán, trống rỗng hoặc nhận biết khách quan qua người khác (hay khóc..)
  2. Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng.
  3. Mất ngủ hoặc ngủ triền miên.
  4. Kích động hoặc trở nên chậm chạp.
  5. Mệt mỏi hoặc mất năng lượng
  6. Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi.
  7. Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung, thường hay do dự, thiếu quyết đoán
  8. Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.
  9. Không còn ham muốn các lĩnh vực trong cuộc sống như phim ảnh, các hoạt động thế thao các hoạt động xã hội rơi vào trạng thái buồn không lý do,chán nản không muốn phấn đấu,làm việc. Người trầm cảm luôn có cảm giác bị bỏ rơi, bị mọi người xa lánh.

2. Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10

Các chẩn đoán về bệnh trầm cảm được các chuyên gia dựa trên bảng chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 mục F32 bao gồm các yếu tố sau:

  1. Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bị bệnh cảm thấy không được khỏe và tìm sự giúp đỡ của bác sĩ, sinh hoạt bình thường) (F32.0)
  2. Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu trong công việc và việc nhà không thể đảm nhiệm nổi) (F32.1)
  3. Trầm cảm nặng (bệnh nhân cần được điều trị tâm lý xã hội) (F32.2)
  4. Trầm cảm nặng kèm theo những biểu hiện thần kinh khác (F32.3)
  5. Những giai đoạn trầm cảm khác (F32.8 và F32.9)

Xem thêm >>> Dịch Vụ Tư Vấn Tâm Lý Tại Nhà HCM

Nguyên nhân của Trầm Cảm

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được nguyên nhân chính xác gây ra rối loạn trầm cảm cũng như chưa giải thích một cách chính xác về nó. Tuy nhiên, dựa trên các biểu hiện triệu chứng và chẩn đoán các chuyên gia đưa một số nguyên nhân dẫn đến trầm cảm được xếp thành 3 nhóm chính như sau:

1. Trầm cảm nội sinh (còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân)

Có nhiều giả thuyết về nguyên nhân của trầm cảm nội sinh được cho là do di truyền, miễn dịch, môi trường sống và yếu tố xã hội… bao gồm:

  • Sự khác biệt về sinh học: Những người bị trầm cảm thường có những thay đổi về thể chất trong não bộ của hộ.
  • Thay đổi hóa chất trong não: Nghiên cứu gần đây cho thấy hóa chất Neurotransmitters là các hóa chất tự nhiên có trong não thay đổi (về chức năng và hiệu quả) và giảm khả năng tương tác lẫn nhau sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định tâm trạng.
  • Yếu tố di truyền Ít người tin rằng trầm cảm bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, nhưng theo một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 46% các cặp song sinh cùng trứng sẽ cùng mắc trầm cảm. Nếu bố mẹ mắc bệnh trầm cảm thì sau khi sinh con cái có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn bình thường.
  • Giới tínhTheo các nghiên cứu thì tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao gấp đôi so với nam giới. Nguyên nhân là do phụ nữ thường có nhiều áp lực dồn nén, gia đình, con cái  không có thời gian chia sẻ cũng như thời gian chăm sóc bản thân, thay đổi hormone trong cơ thể cũng dẫn tới trầm cảm.
  • Yếu tố văn hoá – xã hội: Những sang chấn tâm lý – xã hội đã góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm. Tỉ lệ trầm cảm thường thấy tương đối cao ở người nghèo, dân tộc thiểu số và những người có nguồn trợ cấp xã hội ít ỏi. Những người nghèo hèn, rách nát thường bị coi thường, khinh miệt, nhất là trẻ em khi đến trường. Việc chúng khoác lên mình bộ quần áo bẩn thỉu hay không hợp mốt thôi cũng khiến lũ trẻ nhà giàu xỉa xói, điều này diễn ra nhiều gây trầm cảm, thậm chí là tự kỷ.
benh_tram_cam_la_gi

Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến trầm cảm

2. Trầm cảm do căng thẳng

là hội chứng trầm cảm do áp lực cuộc sống, hoặc do những điều bất thường xảy ra, chẳng hạn như khi mất việc làm, mâu thuẫn trong gia đình, con cái hư hỏng, bị trù dập ở nơi làm việc, làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc có người thân chết đột ngột…

  • Căng thẳng kéo dàiCăng thẳng, stress kéo dài sẽ làm mất đi sự cân bằng tâm lý cho người bình thường, căng thẳng cuộc sống cũng giống như sự chấn động mạnh về tâm lý cũng là nguyên nhân gây ra căn bệnh này.
  • Mất ngủ thường xuyên: Chắc chắn khi mất ngủ thường xuyên sẽ khiến bạn căng thẳng lú lẫn đầu óc ảnh hưởng đến các triệu chứng của trầm cảm. Vì vậy, hãy chú ý đến giờ giấc ngủ nghỉ của mình cho đúng giờ vào mỗi đêm.
  • Những sự kiện chấn động: Sự căng thẳng quá độ đến từ những sự kiện, những biến động trong cuộc sống thường ngày, sự mất mát người thân, tranh cãi, áp lực trong công việc hay những mối quan hệ xấu với mọi người xung quanh.
  • Tâm lý bi quan: Nghiên cứu cho thấy những người có tính cách bi quan có nhiều khả năng trở lên bị trầm cảm hơn những người sống lạc quan, vui vẻ và ưa sự chia sẻ. Do đó, một thái độ sống tích cực, năng động và hòa đồng sẽ giúp bạn tránh xa nguy cơ trầm cảm đấy.

3.  Trầm cảm do các bệnh thực tổn bao gồm các rối loạn nội tiết và các rối loạn thần kinh

Những người gặp các rối loạn thần kinh hay bị các bệnh như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, Parkinson, co giật, sa sút trí tuệ… cũng sẽ là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm. Những người mắc các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, tim mạch… cung có nguy cơ cao mắc chứng trầm cảm.

Ngoài ra, những người gặp rối loạn nội tiết như thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sẩy thai, giai đoạn sau sinh, tiền mãn kinh hay mãn kinh  ở phụ nữ hay bệnh tiểu đường, giảm năng tuyến giáp, hội chứng Cushung cũng chính là nguyên nhân bệnh trầm cảm.

Bệnh trầm cảm được xếp loại thành nguyên phát nếu như các triệu chứng xuất hiện trước và không liên hệ với bất cứ một bệnh nội khoa hoặc tâm thần có ý nghĩa nào khác. Được coi là thứ phát khi bệnh trầm cảm xảy ra sau và có liên hệ với một bệnh nội khoa hoặc tâm thần khác.

Cách phòng tránh và điều trị bệnh trầm cảm

Đối phó với trầm cảm thực sự là một cuộc chiến, chúng có thể kéo dài vài tháng đến vài năm. Để phòng tránh rối loạn trầm cảm các chuyên gia khuyến khích mọi người xây dựng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh. Việc tập thể dục, thư giãn nghỉ ngơi cùng các phương pháp vật lý trị liệu (xoa bóp, châm cứu…) cũng có khả năng cải thiện và đẩy lùi tình trạng rối loạn trầm cảm hiệu quả.

dieu_tri_benh_tram_cam

Trang bị kiến thức về phòng tránh và điều trị bệnh trầm cảm là cần thiết cho bạn

Về điều trị rối loạn trầm cảm các chuyên gia đưa ra 3 phương pháp điều trị cụ thể như sau

  • Dùng thuốc: Mặc dù là một rối loạn cảm xúc tuy nhiên những người mắc bệnh trầm cảm dù nặng hay nhẹ cũng cần được sự thăm khám và chẩn đoán cho thuốc từ bác sĩ chuyên ngành.Các thuốc được dùng trong trường hợp này là thuốc chống trầm cảm. Tuy vài tình trạng của bệnh sẽ có những loại thuốc phù hợp. Tuy nhiên để đảm bảo bệnh nhân không gặp phải tác dụng phụ nên dùng thuốc theo đơn của bác sĩ và tránh tự ý mua thuốc trên thị trường.
  • Trị liệu tâm lý: Bên cạnh việc sử dụng thuốc theo đơn thì người mắc bệnh trầm cảm có thể cậy nhờ thêm sự giúp đỡ của các nhà tâm lý trị liệu. Các phương pháp tâm lý trị liệu sẽ giúp người bệnh hạn chế được những vấn đề tiêu cực của bệnh. Đồng thời phương pháp này giúp thay đổi và hạn chê các thói quen từng là nguyên nhân khiến bạn bị trầm cảm. Liệu pháp này còn giúp làm cho bệnh bớt trầm trọng hơn và có thể bình phục hoàn toàn sau thời gian điều trị tích cực. Ngoài ra, việc được sẻ chia và thấu cảm từ nhà tâm lý cũng giúp ích cho người trầm cảm có thể định hướng và kiểm soát cảm xúc của mình một cách tốt hơn.
  • Sốc điện: Đối với những bệnh nhân mắc chứng trầm cảm nghiêm trọng, không thể chữa trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý. Bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp sốc điện để cải thiện tình trạng bệnh. Tuy nhiên liệu pháp này có thể gây ra các tác dụng phụ như ảnh hưởng tới sức khỏe và dễ gây ra chứng mất trí nhớ tạm thời. Vì vậy chỉ nên áp dụng khi có sự chỉ định của bác sĩ để kịp thời khắc phục những vấn đề phát sinh khi trị liệu chứng trầm cảm bằng sốc điện.

Theo các chuyên gia thì việc kết hợp phương pháp điều trị trầm cảm bằng thuốc và trị liệu tâm lý nếu được kết hợp cùng nhau sẽ mang lại cho người bệnh hiệu quả và tiến bộ vượt bậc.

Trên đây là những chia sẻ của Thanhbinhpsy về Trầm cảm những loại trầm cảm cũng như nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị trầm cảm. Tin rằng, đây sẽ là những kiến thức bổ ích cho bạn để chống lại hội chứng nguy hiểm này.

Liên hệ với ThanhBinhpsy để được giải đáp thắc mắc cũng như đặt lịch tham vấn tâm lý ngay hôm nay:

Chào mọi người, Mình là Selena Thanh Bình - Founder của dịch vụ tư vấn/tham vấn tâm lý Thanh Bình Psy. Mình xây dựng website này để mang đến cho các bạn những góc nhìn đúng đắn nhất và hiện đại nhất về tâm lý học. Ngoài ra, dịch vụ tham vấn tâm lý của Thanh Bình Psy sẵn sàng hỗ trợ bạn 24/7!

Bình luận