agoraphobia lagi
Kiến thức Tâm Lý họcAgoraphobia là gì? Nguyên nhân, biểu hiện và cách điều trị

Agoraphobia là gì? Nguyên nhân, biểu hiện và cách điều trị

Rời khỏi căn nhà mình đang ở là một điều đáng sợ với một số người. Agoraphobia – chứng sợ không gian rộng là nỗi sợ tất những nơi nào mà một người khó trốn khỏi đó, bao gồm những không gian mở rộng lớn hoặc các đám đông, không gian trên các phương tiện đi lại.

Vậy Agorahobia là gì? Biểu hiện triệu chứng, nguyên nhân, những ảnh hưởng của hội chứng lên người mắc và cách điều trị hội chứng sợ không gian rộng như thế nào? Hãy cùng Thanhbinhpsy tìm hiểu trong bài viết ngay dưới đây nhé.

Hội chứng Agoraphobia là gì?

Agoraphobia là một rối loạn tâm thần, trong đó có nỗi sợ những nơi đông người, sợ không gian mở (sợ khoảng rộng). Agoraphobia là một loại cơ chế bảo vệ, được đặc trưng bởi sự vô thức của biểu hiện.

Nỗi sợ hãi của những nơi đông người xuất hiện do nỗi sợ về một cuộc tấn công hoảng loạn ở nơi công cộng. Nỗi sợ hãi như vậy có thể xuất hiện do sợ một thứ gì đó có mối liên hệ với mọi người hoặc với những tổn thương tình cảm nhận được từ họ. Một cá nhân mắc chứng sợ nông khó có thể cảm thấy an toàn ở những nơi đông người, đặc biệt là những nơi đông người.

hội chứng sợ khoảng rộng

Agoraphobia là một rối loạn tâm thần, trong đó có nỗi sợ những nơi đông người, sợ không gian mở (sợ khoảng rộng).

Chứng sợ không gian rộng – agoraphobia, dịch từ tiếng Hy Lạp là Phobos φόβος, “ác cảm“, “sợ hãi” hay được nói một cách phổ biến hơn là “nỗi sợ nơi họp chợ”, sợ nông, là một nỗi sợ và lo âu sâu sắc đối với một nơi chốn hoặc tình huống có thật hay giả định với khả năng trốn chạy khỏi đó khó khăn.

Hội chứng sợ khoảng rộng thường được định nghĩa như là nỗi sợ hãi dai dẳng đối với một đối tượng hoặc một tình huống mà người đó luôn cố gắng tránh né, thường không liên quan đến sự nguy hiểm trong thực tế và được công nhận là sợ hãi không hợp lý. Nói cách khác, người mắc bệnh luôn có biểu hiện phản ứng vượt quá kiểm soát với một sự vật, hiện tượng mà đối với những người khác là quá bình thường hay không đến mức phải sợ hãi cao độ.

Nó bắt nguồn từ bẩm sinh hoặc do sự tác động tâm lý trong một hoàn cảnh nhất định. Trong trường hợp ám ảnh sợ hãi không thể tránh được hoàn toàn, người bệnh sẽ phải chịu đựng với sự căng thẳng rõ rệt, gây ra ảnh hưởng xấu đáng kể đến các hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp.

Những người mắc chứng sợ này có thể né tránh những tình huống họ phải ở một mình khi ra khỏi nhà, hay di chuyển bằng xe hơi, xe buýt, máy bay, ở khu vực đông người, ở nơi không gian khép kín như rạp chiếu phim hoặc các cửa hàng, di chuyển trên các cây cầu hoặc trong thang máy.

Người bệnh sợ hãi những tình tình huống này vì họ nghĩ rằng rất khó thoát ra khỏi những nơi đó, đặc biệt khi có sự cố khẩn cấp xảy ra, hoặc nghĩ rằng mình sẽ bị hạn chế giúp đỡ nếu có bị các triệu chứng hoảng loạn hoặc bối rối ngượng ngùng.

Sự bất an và căng thẳng dang cao có thể buộc họ phải có ai đó cùng đồng hành trong những lúc như vậy. Để được chẩn đoán mắc chứng sợ không gian rộng, tình huống gây sợ ở đây phải luôn gây ra sợ hãi và lo âu ở mức bất hợp lý so với nguy cơ thực sự có thể xảy ra, và những dấu hiệu lo lắng căng thẳng thường phải kéo dài ít nhất 6 tháng. Trường hợp nghiêm trong nhất, người bệnh hoàn toàn không thể ra khỏi nhà.

Hội chứng sợ này khi sử dụng trong bối cảnh tâm lý học lâm sàng được xem như một loại rối loạn lo âu. Có khoảng 1.7% thanh thiếu niên và người trưởng thành bị chẩn đoán mắc chứng sợ không gian rộng. Phụ nữ có khả năng mắc cao gấp 2 lần nam giới. Lần khởi phát bệnh đầu tiên thường xuất hiện vào cuối giai đoạn thanh thiếu niên hoặc đầu giai đoạn trưởng thành, mặc dù căn bệnh này cũng có thể xuất hiện từ thời thơ ấu.

hội chứng sợ không gian rộng

Agoraphobia có thể được gây ra bởi bất kỳ tình huống chấn thương tâm lý xảy ra trước đây liên quan đến con người

Agoraphobia có thể được gây ra bởi bất kỳ tình huống chấn thương tâm lý xảy ra trước đây liên quan đến con người bao gồm:

Suy nghĩ gây sợ hãi và lo âu: Những kiểu suy nghĩ thường gây sợ hãi và lo âu có xu hướng thay đổi theo độ tuổi: Trẻ thường sợ bị lạc, người lớn sợ gặp các triệu chứng hoảng sợ, và người cao tuổi hay sợ bị ngã.

Các rối loạn lo âu: Chứng sợ không gian rộng thường đi kèm với các rối loạn lo âu khác (như rối loạn hoảng sợ hoặc một chứng sợ hãi cụ thể nào khác) và các rối loạn trầm cảm.

Các cơn hoảng sợ: Ở rối loạn hoảng sợ, cơn hoảng sợ tái diễn nhiều lần và người bệnh xuất hiện một nỗi sợ sâu sắc với việc bị hoảng loạn lần tiếp. Nỗi sợ này – được gọi là lo âu tự nguyện hoặc Sợ nỗi sợ – có thể hiện diện hầu như mọi lúc và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người bệnh ngay cả khi cơn hoảng sợ không tiếp diễn. Đa phần mọi người bị rối loạn hoảng sợ đều cho thấy các dấu hiệu của chứng sợ không gian rộng và lo âu trước khi tiến đến rối loạn hoảng sợ.

Tự giới hạn không gian: Người bị chứng sợ không gian rộng thường “giới hạn” bản thân trong “vùng an toàn” bó hẹp ở nhà hoặc khu dân cư lân cận. Bất kỳ sự chuyển dịch nào ra khỏi lằn ranh của vùng an toàn này đều gây lo âu leo thang.

Ngày nay, nhiều nhà khoa học tin rằng từ xa tất cả các nguyên nhân chính xác của chứng sợ nông đã được xác định. Đại đa số họ tin rằng đó là hậu quả của một số yếu tố tâm lý và thể chất.

Xem thêm >>> Tư Vấn Tâm Lý Tại Nhà Ở TPHCM

Biểu hiện triệu chứng của Agoraphobia là gì?

Các biểu hiện lâm sàng của agoraphobia khá đa dạng. Triệu chứng chính của bệnh được coi là sự xuất hiện của các cơn hoảng loạn ở bệnh nhân khi anh ta đến thăm những nơi trước đây khiến anh ta sợ hãi.

Trong khi bắt đầu các cuộc tấn công hoảng loạn trong cơ thể con người, một sự giải phóng đáng kể adrenaline vào máu xảy ra, kết quả là một người như vậy bắt đầu mất kiểm soát bản thân. Các cuộc tấn công như vậy có thể xảy ra hoàn toàn bất ngờ và kéo dài từ 15 phút đến 30.

Về cơ bản, các đối tượng được chẩn đoán mắc chứng sợ nông có nhiều khả năng gặp các triệu chứng của nó trong khi trong các tình huống khiến họ lo lắng. Do đó, các triệu chứng thực thể ở những người như vậy được quan sát khá hiếm, vì họ có xu hướng tránh các tình huống khiến họ hoảng sợ.

sọ không gian rộng

Biểu hiện triệu chứng đặc trưng của Agoraphobia là những cơn hoảng sợ

Tuy nhiên, một số triệu chứng thực thể nổi bật thường gặp bao gồm: tim đập nhanh; tăng thông khí của phổi, bao gồm thở nhanh và nông; đỏ mặt và cảm giác nóng; suy giảm chức năng của đường tiêu hóa, ví dụ, tiêu chảy; nuốt nước bọt thường xuyên; run rẩy; đổ mồ hôi, xuất hiện cảm giác chóng mặt; ù tai.

Triệu chứng của Agoraphobia liên quan đến lo âu, sợ hãi

Người Agoraphobia thường xuất hiệu nỗi sợ hoặc lo âu về các vấn đề như:

– Sợ ra khỏi nhà một mình

– Sợ sử dụng phương tiện giao thông công cộng

– Sợ ở một nơi khép kín (cửa hàng, rạp chiếu phim).

– Sợ đứng xếp hàng hoặc ở trong một đám đông.

– Sợ ở trong một không gian mở (chợ, bãi đậu xe)

– Sợ ở những nơi khó trốn thoát

– Thường chủ động tránh né tất cả các tình huống gây sợ hãi và lo âu.

– Dần không thể ra khỏi nhà trong những khoảng thời gian kéo dài.

– Cảm thấy bị người khác tách biệt và ghẻ lạnh.

– Cảm thấy bất lực.

– Lệ thuộc vào người khác.

– Lo âu hoặc bị hoảng sợ (lo âu ở mức cấp tính nghiêm trọng).

Một người có thể mắc chứng sợ không gian rộng nếu các triệu chứng xuất hiện không phải do những rối loạn và bệnh lý tâm thần khác. Thêm vào đó, thường thì những người bệnh cũng lạm dụng chất có cồn và các thuốc giảm đau, coi đó là một cách đối phó với những vấn đề đang gặp phải.

Triệu chứng của Agoraphobia liên quan đến các vấn đề thể chất

Một số trường hợp Agoraphobia ghi nhận những triệu chứng tâm lý đôi khi có thể liên quan đến thể chất:

  • Sợ rằng mọi người xung quanh sẽ nhận thấy những cơn hoảng loạn và kết quả là cảm giác bối rối và cảm giác nhục nhã;
  • Sợ rằng, trong một cuộc tấn công, trái tim có thể ngừng hoạt động, rằng nó sẽ không thể thở được, hoặc sợ rằng chúng có thể chết;
  • Sợ mất lý trí.

Triệu chứng của Agoraphobia liên quan đến hành vi

Có bốn triệu chứng hành vi gây ra Agoraphobia

Đầu tiên là tránh hoàn cảnh hoặc môi trường quan tâm. Trong một số trường hợp, sự tránh này là vừa phải. Ví dụ, trong trường hợp bệnh nhân tránh ở trong một toa tàu đông đúc.

Triệu chứng hành vi thứ hai là sự tự tin, xuất hiện trước sự chứng kiến ​​của người khác. Đó là, một người có thể đến cửa hàng, nhưng với một người bạn hoặc người thân. Trong những biểu hiện cực đoan, bệnh nhân sẽ thấy cô đơn không thể chịu đựng được.

Thứ ba là hành vi phòng ngừa, trong đó bao gồm nhu cầu sở hữu hoặc lấy thứ gì đó để có thể chịu được hoàn cảnh hoặc môi trường quan tâm. Vì vậy, ví dụ, nhiều người uống rượu trước khi vào những nơi đông người, trong khi những người khác chỉ đi ra ngoài nếu họ chắc chắn rằng những viên thuốc họ cần có trong tay.

Triệu chứng thứ tư là chạy trốn khỏi một nơi hoặc từ một tình huống căng thẳng và trở về nhà.

Các biểu hiện lâm sàng khác

Các biểu hiện lâm sàng khác của Agoraphobia từ tâm lý cũng có thể xảy ra bao gồm:

  • Nghi ngờ bản thân
  • Thiếu tự tin
  • Thường xuyên có cảm giác mất kiểm soát
  • Trạng thái trầm cảm,
  • Liên tục xuất hiện những nỗi ám ảnh, lo lắng và lo lắng.
  • Có cảm giác không thể đối phó với hoàn cảnh mà không có sự giúp đỡ của người khác.

Nguyên nhân gây ra Agoraphobia là gì?

Mặc dù vẫn chưa được tìm hiểu đầy đủ nhưng căn nguyên của hầu hết các rối loạn lo âu được đã được tập trung đào sâu hơn trong vòng một thập kỷ qua.  Nói rộng hơn, khả năng xuất hiện bệnh lý lo âu có liên quan đến sự kết hợp giữa một loạt các yếu tố như trải nghiệm sống, các đặc tính tâm lý,  hoặc yếu tố di truyền.

Trong đó, nguyên nhân phổ biến nhất của Agoraphobia bao gồm các yếu tố sau:

Các cơn hoảng loạn:  các cơn hoảng loạn và biến chứng của chúng được cho là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra Agoraphobia. Một rối loạn như vậy được đặc trưng bởi các giai đoạn hoảng loạn thường xuyên, sợ hãi dữ dội, dẫn đến các phản ứng thể chất nghiêm trọng. Các cuộc tấn công hoảng loạn có thể khá đáng sợ, buộc mọi người nghĩ rằng họ đang mất kiểm soát hoặc chết.

Di truyền: Đặc tính di truyền trong chứng sợ không gian rộng được báo cáo là 61%, khiến người ta tin rằng căn bệnh có mối liên hệ lớn nhất với yếu tố di truyền quyết định khả năng mắc bệnh.

Các yếu tố môi trường: Một số các yếu tố môi trường cũng được coi là có liên quan đến sự phát triển của chứng bệnh này, đó là việc một người có trải nghiệm sự kiện đau buồn (cha mẹ mất, bị tấn công hoặc hành hung) và lớn lên trong một gia đình thiếu sự ấm áp và mức bảo bọc con cái quá cao.

hội chứng sợ không gian rộng là gì

có nhiều nguyên nhân gây ra Agoraphobia tuy nhiên đa số đều có liên quan đến lo âu và yếu tố di truyền

Một số cá nhân liên kết các cuộc tấn công hoảng loạn của họ với một hoặc nhiều tình huống trong đó chúng xảy ra. Do đó, họ tin rằng bằng cách tránh những nơi hoặc tình huống như vậy, họ có thể tránh được các cuộc tấn công hoảng loạn và ngăn chặn các cuộc tấn công tái phát có thể xảy ra.

Tuy nhiên, Agoraphobia thường không phát sinh do rối loạn hoảng sợ. Trong những trường hợp như vậy, không ai biết nguyên nhân gây bệnh.

Dùng thuốc: Agoraphobia có thể xảy ra do dùng một số loại thuốc. Ví dụ, sử dụng thuốc ngủ hoặc thuốc an thần kéo dài có thể dẫn đến sự xuất hiện của agoraphobia.

Ngoài ra còn có một số yếu tố khác ảnh hưởng đến sự xuất hiện của bệnh, chẳng hạn như:

  • Tiêu thụ quá nhiều đồ uống có cồn;
  • Lạm dụng thuốc;
  • Thương tích thời thơ ấu;
  • Tình huống căng thẳng nghiêm trọng, ví dụ, mất người thân, chiến tranh, thảm họa tàn khốc, bệnh nặng, v.v.;
  • Bệnh tâm thần khác nhau, ví dụ, rối loạn ăn uống, trạng thái trầm cảm, vv

Tác động của Agoraphobia đối với cuộc sống

Người bị chứng sợ không gian rộng có thể gặp khiếm khuyết nghiêm trọng vì bệnh lý này. Đa số những người bị rối loạn này có thể không ra khỏi nhà được trong nhiều năm trời, và họ có thể dựa dẫm nhiều vào các thành viên khác trong gia đình, những người này vừa phải làm các công việc mua sắm, chăm lo việc nhà cũng như hộ tống người bệnh trong những chuyến du hành hiếm hoi ra khỏi vùng an toàn của họ.

Kết quả là nhiều mối quan hệ tương tác xã hội bị hủy hoại. Theo ước tính, hơn một phần ba người bị chứng sợ không gian rộng không ra khỏi nhà và không thể đi làm.

sợ nông

Agoraphobia gây ảnh hưởng lớn đối với người bệnh, nhiều người không thể giao tiếp xã hội, thậm chí không thể ra khỏi nhà

Những đối tượng sợ phải tham gia giao thông công cộng hoặc ở những nơi đông người thường sợ trực tiếp rời khỏi nhà, không có người đi cùng ở những nơi bận rộn không thể rời đi ngay lập tức.

Đây chính xác là cách một vòng tròn luẩn quẩn xuất hiện – nỗi sợ hãi hoảng loạn ở những nơi công cộng hoặc ở nơi công cộng, buộc các đối tượng mắc chứng sợ khoảng rộng không được ra khỏi nhà, dẫn đến tình trạng bệnh trầm trọng hơn.

Cùng với điều này, nhiều bệnh nhân mắc chứng sợ này có thể giao tiếp thành công trong một nhóm lớn người, với điều kiện giao tiếp như vậy sẽ xảy ra trên lãnh thổ của họ trong không gian thông thường. Loại agoraphobia này thường xảy ra ở tuổi trưởng thành.

Điều trị Agoraphobia

Agoraphobia không phải là hậu quả của sự sợ hãi, mà chỉ là một nỗ lực vô thức để tránh một tình huống gây ra sự sợ hãi.

Mục tiêu của điều trị Agoraphobia là giúp người bệnh vận hành cuộc sống hiệu quả hơn. Sự thành công của điều trị thường phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của chứng bệnh.

Điều trị bằng thuốc

Bệnh nhân có xuất hiện các cơn hoảng sợ, là một trong các triệu chứng của chứng sợ không gian rộng có thể được kê toa thuốc để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tần suất và độ nghiêm trọng của những cơn hoảng sợ, và cũng để hạn chế tình trạng lo âu tự nguyện có liên quan.

Khi bệnh nhân thấy mình gặp hoảng loạn với tần suất và độ nghiêm trọng thấp hơn, họ sẽ ngày càng dám thử thách bản thân hơn trong những tình huống gây căng thẳng trước đây.

Các nhóm thuốc thường được sử dụng phổ biến nhất là thuôc chống trầm cảm ba vòng, thuốc ức chế tái hấp thu có chọn lọc serotonin (SSRIs), benzodiazepines liều công dụng cao, và Thuốc ức chế oxid monoamine (MAOIs). Chọn loại thuốc nào để sử dụng sẽ dựa trên việc cân nhắc các yếu tố an toàn, tính hiệu quả, và nhu cầu đặc thù của bệnh nhân.

Thuốc chống trầm cảm ba vòng xuất hiện trước SSRIs và có tác dụng tương đương SSRIs trong điều trị các rối loạn lo âu trừ Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD). Imipramine là thuốc chống trầm cảm ba vòng được sử dụng phổ biến nhất để điều trị chứng bệnh này.

Khi Imipramine được kê cho bệnh nhân, họ thường bắt đầu bằng liều thấp mỗi ngày, rồi tăng dần từ từ cho đến khi đạt đến liều hiệu quả. Khởi liều Imipramine chậm giúp giảm thiểu những tác dụng phụ như khô miệng, táo bón và tầm nhìn suy giảm.

SSRIs thay đổi mức độ chất dẫn truyền thần kinh serotonin trong não, chất này cũng tương tự như các chất dẫn truyền thần kinh khác, giúp các tế bào não giao tiếp với nhau.

Fluoxetine (Prozac), sertraline (Zoloft), escitalopram (Lexapro), paroxetine (Paxil), and citalopram (Celexa) là một số các thuốc SSRIs được kê toa phổ biến trong điều trị rối loạn hoảng sợ,

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD), rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) và chứng ám ảnh sợ xã hội. SSRIs cũng được sử dụng để điều trị rối loạn hoảng sợ khi bệnh lý này xuất hiện kết hợp với rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Những loại thuốc này được khởi liều thấp và dần tăng lên cho đến khi tạo được hiệu quả điều trị.

SSRIs có ít tác dụng phụ hơn các thuốc chống trầm cảm cũ (Thuốc chống trầm cảm ba vòng), nhưng đôi khi chúng cũng gây buồn nôn nhẹ hoặc bồn chồn trong lần đầu uống. Những triệu chứng này sẽ mất dần theo thời gian. Một số người cũng gặp một số vấn đề rối loạn chức năng tình dục khi uống SSRIs, điều này có thể được cải thiện bằng cách điều chỉnh liều hoặc đổi sang loại SSRI khác.

sợ khoảng rộng

Điều trị kết hợp là phương pháp được các chuyên gia tâm lý cũng như các bác sĩ thần kinh khuyến khích đối với agoraphobia

Benzodiazepines liều công dụng cao là một nhóm thuốc được sử dụng hiệu quả trong điều trị lo âu. Alprazolam, clonazepam và loaepam là những thuốc thuộc nhóm này. Thuốc có tác dụng nhanh, có một vài tác dụng phụ khó chịu và được hầu hết người bệnh dung nạp tốt. Tuy nhiên, một số bệnh nhân, đặc biệt là những người có vấn đề lệ thuộc rượu bia và ma túy có thể trở nên lệ thuộc vào benzodiazepine.

Điều trị bằng benzodiazepine công dụng cao thường kéo dài liên tục từ 6 tháng đến 1 năm. Một điểm trừ của thuốc này là bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng cai – khó chịu, yếu sức và những tác dụng không mong muốn khác – khi chấm dứt điều trị. Giảm liều từ từ nói chung có thể hạn chế những vấn đề này. Cơn hoảng sợ cũng có thể tái diễn sau khi ngưng sử dụng thuốc.

Trong các loại huốc ức chế oxid monoamine, một nhóm thuốc chống trầm cảm đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị rối loạn hoảng sợ, phenenelzine là loại sử dụng phổ biến nhất. Điều trị bằng phenelzine thường bắt đầu với một liều nhỏ mỗi ngày, liều sẽ tăng dần dần cho đến khi cơn hoảng sợ biến mất hoặc bệnh nhân đạt đến ngưỡng liều tối đa, khoảng 100mg/ngày.

Sử dụng phenelzine hay bất cứ Thuốc ức chế oxid monoamine nào khác đều yêu cầu bệnh nhân phải tuân thủ chế độ ăn uống kiêng nghiêm ngặt vì có một số thức ăn, thuốc kê toa và một số chất bị lạm dụng có thể tương tác với loại thuốc này, gây tăng huyết áp đột ngột cực kỳ nguy hiểm. Tất cả bệnh nhân uống Thuốc ức chế oxid monoamine nên tuân thủ hướng dẫn từ bác sĩ liên quan đến chế độ ăn kiêng và nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi uống bất kỳ loại thuốc kê toa hoặc không kê toa nào.

Xem thêm >>> Tư Vấn Tâm Lý Qua Chat

Điều trị kết hợp

Một vài bệnh nhân mắc các rối loạn lo âu cũng có thể được điều trị hiệu quả bằng cách kết hợp hoặc sử dụng liên tiếp cả liệu pháp điều trị tâm lý và dùng thuốc. Điều trị kết hợp được cho là nhanh chóng khiến bệnh nhân cảm thấy thoải mái, hiệu quả cao và tỷ lệ tái phát thấp.

Các liệu pháp tâm lý

Tự phân tâm và một phương pháp thư giãn, chẳng hạn như thiền hoặc kỹ thuật thở, có thể giúp đối phó với các biểu hiện lâm sàng của chứng sợ nông.

Trong trường hợp các cơn hoảng loạn của Agoraphobia, các bài tập thở là hiệu quả nhất, giúp thư giãn và đưa cá nhân đến trạng thái yên tâm. Thể dục hô hấp bao gồm một hơi thở hiếm, nhưng khá sâu, trong đó thở ra được tăng gấp đôi so với hít vào. Để tạo điều kiện cho phương pháp này, bạn có thể sử dụng gói, tốt hơn nếu nó được làm bằng giấy. Thời lượng được đề nghị của phương pháp này là từ năm đến bảy phút.

Ngoài ra, phương pháp giải cảm ứng có hệ thống, hay còn gọi là “liệu pháp tiếp xúc”, là một kỹ thuật can thiệp hành vi dùng để điều trị các chứng sợ. Trong liệu pháp này, trị liệu viên sẽ yêu cầu người bệnh thư giãn, sau đó tưởng tượng ra những thứ tạo nên chứng sợ của mình, cùng đương đầu với cái ít đáng sợ nhất đến cái gây sợ hãi nhất.

Trải nghiệm tiếp xúc thực tế theo cấp độ cũng được áp dụng giúp người bệnh vượt qua nỗi sợ hãi của mình. Ở kỹ thuật này, người ta sẽ cho người bệnh trực tiếp tiếp xúc với các tình huống khó khăn ngoài đời thực, theo cấp độ từ ít đến cực kỳ nghiêm trọng.

Ví dụ, một người bệnh được cho tiếp xúc với một vài người trước khi dành thời gian ở trong một nhóm lớn nhiều người để tập vượt qua nỗi sợ đám đông. Người bệnh sẽ làm việc với chuyên gia trị liệu để xây dựng những kỹ thuật đối phó với nỗi sợ như liệu pháp thư giãn và kỹ thuật thở.

Mặc dù lý tưởng vẫn là cho tiếp xúc thực tế hay thực hành “ngoài phòng thí nghiệm”, nhưng tiếp xúc dựa trên tưởng tượng cũng là một liệu pháp thay thế tạm chấp nhận được trong nhóm liệu pháp tiếp xúc nói chung. Điều trị chứng sợ không gian rộng bằng liệu pháp tiếp xúc sẽ giúp giảm lo âu và cải thiện tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống trên 75% tổng số ca bệnh.

Các dạng trị liệu khác như liệu pháp can thiệp nhận thức, liệu pháp phản hồi sinh học, thôi miên, thiền, thư giãn hoặc liệu pháp cặp đôi cũng khá hữu ích cho một số bệnh nhân. Liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) là một phương pháp kết hợp liệu pháp nhận thức – liệu pháp giúp điều chỉnh hoặc chấm dứt các dạng thức suy nghĩ góp phần gây ra triệu chứng ở bệnh nhân, và liệu pháp can thiệp hành vi, hướng đến giúp bệnh nhân thay đổi hành vi của bản thân.

agoraphobia la gi 7

Thôi miên cũng là một trong những hình thức được sử dụng nhiều trong điều trị agoraphobia

CBT nói chung cần thực hiện trong vòng ít nhất 8 đến 12 tuần. Một số người có thể phải cần nhiều thời gian điều trị hơn để học và thực hiện những kỹ năng mới học được.

 Loại trị liệu này, với tỷ lệ tái phát thấp, có hiệu quả trong việc loại trừ những cơn hoảng sợ hoặc giảm thiểu tần suất của chúng. Nó cũng làm giảm hiện tượng lo âu tự nguyện và thái độ tránh né các tình huống gây sợ hãi.

Điều trị có thể khá phức tạp bởi một thực tế là bệnh nhân sẽ gặp khó khăn trong việc hẹn gặp bác sĩ do nỗi sợ hãi tồn tại trong họ. Để giải quyết vấn đề này, một vài trị liệu viên đã phải đến nhà của người bệnh để thực hiện các phiên can thiệp ban đầu. Thường trị liệu viên sẽ dẫn bệnh nhân đến các trung tâm mua sắm và những những nơi mà bình thường bệnh nhân vẫn tránh né để hỗ trợ, giúp bệnh nhân đối phó với nỗi sợ của mình.

Bệnh nhân sẽ được dần dần tiếp cận với tình huống gây sợ hãi, họ sẽ nỗ lực ở lại, không bỏ trốn dù lo âu trong họ tăng cao. Theo đó, bệnh nhân sẽ thấy rằng mặc dù cảm xúc này có thể cực kỳ đáng sợ nhưng chúng không nguy hiểm, và chúng sẽ qua đi. Mỗi lần cố gắng, bệnh nhân sẽ đối mặt với nỗi sợ trong phạm vi nhiều nhất họ có thể chịu đựng được.

Người bệnh sẽ phát hiện ra rằng, với biện pháp tiếp cận từng chút một, cộng với sự động viên và tư vấn chuyên nghiệp của trị liệu viên, họ có thể dần làm chủ được nỗi sợ hãi và có thể đương đầu được với những hoàn tình hay tình huống mà trước đây dường như không thể đối với họ.

Nhiều trị liệu viên thậm chí còn giao “bài tập” cho bệnh nhân vào giữa các phiên can thiệp. Đôi khi bệnh nhân chỉ thực hiện một vài phiên tiếp xúc một-một với trị liệu viên, còn lại họ sẽ tự thực hiện có tham khảo sổ tay hướng dẫn.

Thường thì bệnh nhân sẽ tham gia trị liệu nhóm với những người cũng đang cố gắng vượt qua chứng sợ không gian rộng giống họ, họ gặp nhau hàng tuần để thảo luận quá trình tiến bộ, động viên nhau và tiếp nhận hướng dẫn từ trị liệu viên.

Tối ưu hóa kết quả điều trị

Nhiều người mắc rối loạn lo âu cũng có thể cải thiện tình hình bằng cách tham gia các nhóm tự lực hoặc nhóm hỗ trợ, nơi đó họ chia sẻ vấn đề của mình và những thành tích đạt được trong quá trình điều trị với người khác.

Trao đổi với một người bạn đáng tin cậy hoặc bạn thân có thể hỗ trợ bệnh nhân, nhưng cách này không thay thế được sự can thiệp và chăm sóc từ một chuyên gia sức khỏe tâm thần.

Kỹ thuật quản lý căng thẳng và phương pháp thiền có thể giúp người bệnh rối loạn lo âu bình tâm hơn và có thể giúp cải thiện hiệu quả điều trị. Tập thể dục nhịp điệu cũng có thể giúp bệnh nhân cảm thấy bình tâm. Caffeine, một số ma túy bất hợp pháp và thậm chí một số loại thuốc cảm không kê toa có thể làm trầm trọng các triệu chứng của rối loạn lo âu nên bệnh nhân cần tránh các thuốc này. Kiểm tra lại với bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc phụ kèm nào.

Vậy là Thanhbinhpsy vừa chia sẻ đến bạn đọc những thông tin khái quát nhất về ám ảnh sợ khoảng trống – Agoraphobia. Tin rằng đây sẽ là những thông tin bổ ích giúp cho bạn có thể hiểu thêm cũng như nhận biết được hội chứng này khi gặp phải và có cách điều trị hợp lý nhất.

Tài liệu tham khảo

  1. Psychology Today
  2. https://en.wikipedia.org/wiki/Agoraphobia

Chào mọi người, Mình là Selena Thanh Bình - Founder của dịch vụ tư vấn/tham vấn tâm lý Thanh Bình Psy. Mình xây dựng website này để mang đến cho các bạn những góc nhìn đúng đắn nhất và hiện đại nhất về tâm lý học. Ngoài ra, dịch vụ tham vấn tâm lý của Thanh Bình Psy sẵn sàng hỗ trợ bạn 24/7!

Bình luận